Phong thủy âm trạch và nỗi lo thời nay

Khi dân số ngày càng tăng khi đó mọi nhu cầu đều tăng theo, trong đó nỗi lo ngại về âm trạch thời nay, tìm đất cho người sống đã khó, đất nghĩa trang chôn cất còn khó hơn.

Thực tế hiện nay quá trình phát triển của xã hội, sự gia tăng dân số không chỉ tạo nên áp lực đáp ứng nhu cầu ăn, ở, mặc, đi lại, học hành cho người sống mà còn phải lo việc hậu sự cho người quá cố. Quan niệm "mua bán đất nghĩa trang" không còn là chuyện xa lạ, , lưu giữ hài cốt vĩnh viễn trong lòng đất (an táng), chôn cất tử thi vài ba năm (hung táng), sau đó cải táng (có nơi gọi là đổi mả, sang cát) rồi mới đào sâu chôn chặt những điều đó có từ thuở xa xưa.

Mô hình khuông viên nghĩa trang sinh thái tại Công viên Thiên Đức Vĩnh Hằng Viên Phú Thọ Mô hình khuông viên nghĩa trang sinh thái tại Công viên Thiên Đức Vĩnh Hằng Viên Phú Thọ

Mùa bốc mộ lại là một ám ảnh !

Cuối năm, tiết trời se lạnh là thời điểm các gia đình có người thân qua đời, đã “hung táng” vài ba năm nay chọn ngày lành tháng tốt để “thay áo”, “làm nhà mới” như một trách nhiệm bắt buộc của con cháu với người quá cố. Theo quan niệm như sách “Thọ mai gia lễ” hướng dẫn, việc cải táng bắt buộc phải hoàn thành trong đêm, tránh ánh sáng mặt trời. Con trai trưởng là người trực tiếp nhặt cốt, lau rửa hộp sọ đưa vào tiểu sành. Không ít tình tiết ghê rợn phát sinh trong quá trình cải táng đã ám ảnh khiến người trong cuộc cả chục năm sau vẫn rùng mình ớn lạnh mỗi khi nhớ lại. Có đám cải táng ở đất quê vùng chiêm trũng, khi mai táng, quan tài ngập sâu trong nước, cậy ván thiên lên cả gia đình hoảng loạn bỏ chạy khi thấy hộp sọ người chết bỗng dưng… vùng vẫy trong lòng quan tài! Nhìn kỹ hóa ra có con lươn to như chuôi dao chẳng biết lọt vào áo quan từ lúc nào rồi mắc kẹt trong hốc mắt hộp sọ, bị ánh sáng chiếu bất ngờ hoảng loạn mà gây nên cảnh tượng ma quái kia. Ghê rợn nhất là gặp trường hợp tử thi chưa phân hủy hết. Do cơ địa mỗi người, tình trạng sử dụng dược phẩm, hóa chất và thổ nhưỡng nơi mai táng mà tử thi phân hủy nhanh hay chậm. Thường đất gò đồi, không gây yếm khí thì chỉ sau ba năm là “sạch”. Đất đồng chiêm trũng ngập nước, thời gian phân hủy cũng khá nhanh. Nhưng không hiếm trường hợp chẳng hiểu do người chết dùng kháng sinh, sâm nhung nhiều hay gặp phải huyệt mộ đặt nơi đất “lạnh” yếm khí nên có khi 4-5 năm đào lên thi thể vẫn còn nguyên, cá biệt có trường hợp da thịt vẫn hồng, hoặc chỉ khô quắt vào, nguyên vẹn. Kiêng kỵ không để đào lên lại lấp xuống, nhiều nhà đã chấp nhận dùng dao lọc nhục lấy cốt. Đây thực sự là cảnh tượng kinh hoàng! Gặp trường hợp tử vong do tai nạn giao thông, khi cải táng, nhìn bộ hài cốt vỡ vụn, nỗi đau của người thân nạn nhân như bị khoét sâu thêm.

Rõ ràng, trong xã hội văn minh, hiện đại, tập tục cải táng đã và đang để lại nhiều hệ lụy khó tránh. Sự tốn kém của việc tổ chức tang lễ chưa kịp phục hồi thì trong cuộc cải mả, gia chủ lại phải tốn thêm ít nhất vài chục triệu lo cỗ bàn, phông bạt, tìm đất, xây mồ. Hình thức cải táng còn đặc biệt độc hại với người tham gia trực tiếp, gây mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường sống, tạo nên hình ảnh ghê rợn, phản cảm ngược với nếp sống văn hóa mới.

Trực tiếp giúp nhiều gia đình cải táng cho người thân, ông Nguyễn Văn Long (huyện Phù Ninh) vẫn rùng mình khi nhắc lại những trường hợp thi thể chưa tiêu hết mà mình gặp phải. “- Là anh em thân thiết thì mình phải giúp thôi. Tôi đã từng tham gia chiến đấu trong chiến trường, đã chứng kiến không ít lần đồng đội hy sinh vì bom đạn, thân thể chỉ còn lại chưa đầy vốc thịt, nhưng khi cải táng, gặp những thi thể chưa phân hủy hết vẫn thực sự thấy ghê rợn, ám ảnh hàng tháng trời. Mà không hiểu do cuộc sống phát triển, con người có điều kiện sử dụng nhiều thuốc bổ, kháng sinh mà trường hợp tử thi cải táng chưa phân hủy hết gặp phải ngày càng nhiều...” - ông Long chia sẻ.

Khuôn viên mộ, âm phần lấn đất dương thổ

Vẫn biết nghĩa trang, nghĩa địa không chỉ đơn thuần là chốn an táng mà còn là nơi bày tỏ tình cảm, đạo lý của người sống với người đã khuất. Tuy nhiên, tài nguyên đất có hạn trong khi dân số không ngừng tăng và mồ mả người chết cũng tăng theo sẽ dẫn đến hệ lụy hiển nhiên là người sống phải “nhường” diện tích sản xuất, sinh hoạt cho người chết.

111 Một góc công viên nghĩa trang Vĩnh Hằng thuộc Công ty CP Ao Vua.

Theo báo cáo của Sở Xây dựng: Trên địa bàn tỉnh ta hiện có 7 nghĩa trang, 1.230 nghĩa địa với tổng diện tích 1.385,1ha. Bên cạnh đa số nghĩa địa được quy hoạch đảm bảo các điều kiện tối thiểu, cũng còn không ít nơi hung táng người chết sát đầu nguồn nước, gần khu dân cư; hoặc do bức bách về chỗ ở mà có người dựng lều, làm nhà trái phép sát nghĩa trang. Không hiếm trường hợp giếng khơi của các gia đình có thổ cư phía dưới các nghĩa địa hoặc ở gần nghĩa trang, nguồn nước váng mỡ như có dầu loang, mùi tanh nồng không thể dùng sinh hoạt được.

Những năm qua mới có một số ít nghĩa trang được quy hoạch, còn lại hầu hết các nghĩa địa không có quy hoạch chi tiết xây dựng, không được đánh giá tác động môi trường và đầu tư xây dựng theo quy định, nên không đảm bảo vệ sinh môi trường, ảnh hưởng tiêu cực đến cảnh quan, gây lãng phí tài nguyên đất. Ở một số địa phương, hiện tượng người dân tự động xây tường rào, cắm mốc giới chiếm đất nghĩa trang, nghĩa địa để xây khu mồ mả riêng của gia đình dòng họ. Tùy theo hoàn cảnh, có nhà chiếm đôi ba chục m2, có hộ tiềm lực dư dả cát cứ hàng trăm m2 đất. Không được quy hoạch, việc định vị trí huyệt chôn hầu như do thân nhân người chết tự quyết định, không theo hàng lối, kích thước nào, gây nên tình trạng lãng phí đất. Có nơi đã xẩy ra tình trạng tranh chấp đất nghĩa trang, dẫn đến hiện tượng xâm phạm mồ mả, gây mất an ninh trật tự. Cũng có địa phương, gia đình có người chết chôn cất người xấu số ngay vệ đồi, mép sông, ven đường; không những gây mất vệ sinh mà còn gây phản cảm.

Ở một khía cạnh nào đó, ngày nay, quy mô, hình thức các phần mộ, khu mộ ở nghĩa trang, nghĩa địa dường như đang là “tiêu chí” khẳng định “đẳng cấp” giàu nghèo của một bộ phận người sống! Đi qua nhiều nghĩa trang, nghĩa địa, người ta thấy nó như một “thành phố, khu dân cư” thu nhỏ với đủ loại kiến trúc lăng mộ, có cái to như cái điếm canh đê, đắp cảnh, vẽ hình rất chi là lòe loẹt; nhưng cũng không ít phần mộ nhỏ bé, khiêm nhường, cỏ cao hơn nấm… Nhìn các nấm mồ đơn lẻ lúp súp, chen chúc nhau trên một vạt đất đầy dấu tích hung táng so với các khu mộ đất rộng thênh thang, đôi khi chúng ta cũng cảm thấy chạnh lòng! Ở quê tôi đã xảy ra không ít trường hợp khi đào huyệt mộ cho người chết lại đụng ngay một, hai cái tiểu sành của những ngôi mộ không rõ nấm hoặc nấm mộ lệch vị trí hài cốt.

Không chỉ đô thị đất chật người đông, quỹ đất eo hẹp mà ngay cả vùng nông thôn, miền núi vấn đề quy hoạch, quản lý nơi chôn cất người chết đảm bảo tiết kiệm đất, vệ sinh môi trường, phù hợp với cảnh quan đã và đang là đòi hỏi bức thiết trước thực trạng hầu như các nghĩa địa phát triển tự phát. Do không có quy hoạch nên phần lớn nghĩa trang không có tường rào bảo vệ, không nhà quản trang, hệ thống thoát nước tạm bợ và đường đi thường rất khó khăn. Đặc biệt, rất nhiều nghĩa trang không có ranh giới phân định rõ ràng, đảm bảo khoảng cách xa tối thiểu với khu dân cư hoặc nguồn nước sinh hoạt của người dân, khu hung táng lẫn lộn với khu cát táng.

Một vấn đề cũng gây nên hệ lụy là hình thức an táng. Nhiều nghĩa trang, nghĩa địa chưa có hình thức táng mới phù hợp với sự phát triển của xã hội, chưa có mô hình quản lý và hình thức dịch vụ khả dĩ có thể đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, chưa có quy định về phân cấp quản lý nghĩa trang. Việc đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách tập trung cho các nghĩa địa hầu như không có. Tại các đô thị, nghĩa địa nằm sát khu vực nội thị, có nơi nằm ngay trong lòng đô thị đã tác động xấu đến kiến trúc cảnh quan và môi trường đô thị...

Cao Khô